Tại sao các sử gia thế giới tôn vinh Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn là đệ nhất danh tướng thời Trung Cổ ?

Bài 2

Ðặt nợ nước trên thù nhà.

Thế giới tôn vinh đệ nhất danh tướng thời Trung cổ

III. Hưng Ðạo Vương Ðặt Nợ Nước Lên Trên Thù Nhà

Trong bài trước, chúng ta đã thấy Hưng đạo vương nổi bật với tài ba của một vị tướng kiệt xuất. Nhưng không phải chỉ có thế. Ngài còn lưu tiếng thơm muôn đời sau vì đã nêu gương trung trinh ái quốc, biết đặt nợ nước lên trên thù nhà.

Thời nhà Lí suy vi, vua Lí Huệ tông (1211-1225) ươn hèn, vô trách nhiệm. Vua sinh hai công chúa: Thuận Thiên và Chiêu Thánh. Năm 1224, Huệ tông truyền ngôi cho Chiêu Thánh công chúa, tức Lí Chiêu hoàng mới lên 8 tuổi, rồi vua cha lên tu ở chùa Chân Giáo. Chiêu hoàng là vua nữ duy nhất trong lịch sử nước ta.

Trong tình hình ấy, quan Thái sư Trần Thủ Ðộ nhận định vận nước nguy nan, chỉ có nhà Trần ra tay mới cứu được. Cho nên Trần Thủ Ðộ đã dàn dựng cuộc hôn nhân vương giả Lí Chiêu hoàng lấy cháu của ông là Trần Cảnh, rồi lại thu xếp Lí Chiêu hoàng truyền ngôi cho chồng, tức là vua Trần Thái tông.

Lấy nhau lâu, hoàng hậu Chiêu Thánh đã 19 tuổi vẫn chưa sinh con nối dõi. Ðó là một mối nguy cho triều đại mới. Trần Thủ Ðộ liền ra tay một lần nữa, bắt Thuận Thiên (chị ruột của Chiêu Thánh) là vợ của Trần Liễu (anh ruột của Trần Cảnh, tức vua Thái tông) đang có bầu gả cho Trần Cảnh; bắt vua phế Chiêu Thánh hoàng hậu xuống làm công chúa, nâng Thuận Thiên lên chức hoàng hậu.

Bị mất vợ, Trần Liễu tức giận, làm loạn. Vua Thái tông cũng buồn lòng, bỏ lên chùa Phù Vân trên núi Yên Tử (Quảng Ninh). Trần Thủ Ðộ dẫn quần thần lên chùa đón vua. Vua nói dỗi: Trẫm còn nhỏ dại, không kham nổi việc to lớn, các quan nên chọn người khác để cho khỏi nhục xã tắc. Nài mãi không được, Trần Thủ Ðộ bảo các quan: Hoàng thượng ở đâu, tức triều đình ở đấy. Nói xong, Thủ Ðộ truyền xây cung điện tại chùa Phù Vân. Nhà sư trụ trì vội van lậy vua hồi triều. Vua Thái tông bất đắc dĩ phải nghe theo.

Ðược ít lâu, Trần Liễu nhắm không thành công, đang đêm cải trang, lẻn lên thuyền vua, xin hàng. Hai anh em ôm nhau khóc. Trần Thủ Ðộ biết chuyện, tuốt gươm toan chém Trần Liễu. Vua Thái tông lấy thân mình che cho anh và xin chú tha cho Trần Liễu. Vua còn cắt đất An Sinh cấp cho anh và phong cho ông là An Sinh vương.

An Sinh vương Trần Liễu chính là cha của Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Còn vua Thái tông (tức Trần Cảnh) lại là cha của vua Thánh tông và các ông Chiêu minh vương Trần Quang Khải, Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc (tức kẻ phản bội, đầu hàng quân Mông Cổ), và Chiêu văn vương Trần Nhật Duật.

Trần Liễu được tha tội làm loạn, được cấp đất và phong vương, nhưng không thể quên được mối thù hận mất vợ, cho nên đã răn dậy Trần Quốc Tuấn phải chăm chỉ học tập, văn ôn võ luyện kiêm toàn, để sau này có dịp rửa mối nhục cho ông. Trần Liễu trăn trối: “Sau này, nếu con không vì ta mà đoạt thiên hạ thì ta nằm dưới lòng đất sẽ không nhắm mắt được”.

Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn nhớ lời cha trăn trối, nhưng Ngài không bao giờ thực hiện, bởi vì Ngài biết đặt nợ nước lên trên thù nhà. Trước cường địch, Ngài biết chủ động giải mối thù hận giữa hai gia đình để cùng nhau chung sức cứu nguy đất nước.

Chuyện kể một lần Quốc Tuấn mời Thái sư Trần Quang Khải lên thuyền mình trò truyện, đánh cờ và sai nấu nước thơm để đích tay lau rửa cho Trần Quang Khải. Làm thế để muốn vĩnh viễn xoá bỏ hận thù giữa hai gia đình Trần Liễu và Trần Cảnh.

Chuyện khác kể, có lần Ngài đem chuyện thù oán giữa hai gia đình ra hỏi dò các con. Một người con tên Trần Quốc Tảng khích Ngài nên cướp ngôi, vương nổi giận, toan chém. Các con và bọn tâm phúc van xin vương mới tha cho Tảng, nhưng nghiêm khắc mắng: “Từ nay cho tới khi nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng nghịch tử, phản thần này nữa”.

Ðối với vua, với nước thì như thế, còn với những kẻ lầm đường lạc lối thì sao? Sau chiến tranh vệ quốc toàn thắng, triều đình dâng sớ tâu vua về những kẻ phản nghịch, đầu hàng giặc. Vua hỏi ý Ngài về cách xử trí. Vương đã xin đốt bỏ hồ sơ để xoá hết hận thù, tránh cho kẻ lầm đường phải mang mặc cảm tội lỗi, hoặc là vì bị cùng đường sẽ sinh loạn. Ðó là tấm lòng khoan dung, đại lượng của bậc anh hùng.

Tóm lại, Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn là vị anh hùng dân tộc kiệt xuất văn võ song toàn, tài đức siêu quần bạt chúng. Toàn dân Việt Nam muôn đời nhớ ơn Ngài, noi gương Ngài. Chẳng những thế, dân còn tôn Ngài lên bậc hiển thánh và thờ phụng Ngài tại Ðền Ðức Thánh Trần ở Kiếp Bạc (Bắc Việt), tại Ðền Ðức Thánh Trần đường Hiền Vương, Sài Gòn, v.v…

Hai tháng trước khi Ngài qua đời, vua Trần Anh tông đến thăm và hỏi Ngài: “Thượng phụ một mai khuất núi, nếu giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách làm sao?” Ðại vương tâu vua nhiều điều tâm huyết, xin trích một ý: “… Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc, bền rễ. Ðó là thượng sách giữ nước”. Vua Thánh tông đã tưởng thưởng sự nghiệp vĩ đại của Ngài bằng cách vua đích thân làm bài văn kể hết công lao của Ngài, cho khắc vào bia đặt vào đền sinh từ để thờ sống Ngài.

Ngày 20 tháng 8 năm Canh Tí (1300), vừa nghe tin Ngài qua đời, vua Trần Anh tông khóc to lên: “Thượng phụ là trụ thạch của nước nhà, mặc áo giáp, cầm mũi nhọn, quét sạch bụi Hồ, lấy lại thần kinh, vỗ yên muôn họ, nay bỏ trẫm mà đi, tìm đâu được người lo cho dân, yêu nước như Thượng phụ”.

Sau đó thượng hoàng Trần Nhân tông và vua Anh tông truyền chỉ các quan mặc áo đại tang, vua đi xe mộc, ngựa trắng, thân hành tới tận nơi chủ trì tang lễ.

Theo lời di chúc, thi hài Ngài được hỏa táng, chôn trong vườn, đất san bằng và trồng cây lên như cũ, không xây lăng mộ. Vua phong cho Ngài là Thượng Quốc Công Bình Bắc Ðại Nguyên Súy Long Công Thịnh Ðức Vĩ Liệt Hồng Huân Nhân Vũ Hưng Ðạo Ðại Vương, cho lập đền thờ ở Thiên Trường và Vạn Kiếp.

Mặc dù còn hận chiến bại, nhưng sử sách nhà Nguyên vẫn tỏ ra kính trọng Ngài bằng cách không dùng tên húy của Ngài mà gọi là Hưng đạo vương. Trong giới dân giả người Trung Hoa vẫn thường doạ con nít: “Hình tầu tài voòng” (Hưng đạo đại vương). Có nơi còn viết 4 chữ đại tự này dán lên đầu giường để trấn áp ma quỷ!