Phố Cổ Hội-An

Thị-xã Hội-An nằm bên bờ phía Bắc của sông Thu-Bồn, từng một thời là hải cảng quốc-tế của Việt-nam mở cửa giao-thương với thế-giới bên ngoài. Từ thế-kỷ 16, 17 với tên gọi xa xưa là Đại-Chiêm, Phố Hiến hay Faifoo, Hội-An là một thương cảng thịnh-vượng, là trung-tâm buôn bán lớn của vùng Đông-Nam-Á. Ngày đó trên bến sông Thu-Bồn tấp-nập những thương thuyền của người Nhật-Bản, Trung-Quốc, Bồ Đào Nha, Ý Đại Lợi.

Trên đường phố Hội-An nhộn-nhịp người mua kẻ bán nào tơ-lụa, vải vóc, trà, tiêu, thuốc Bắc v.v…Thương thuyền Trung-Quốc thuận buồm nương theo gió Bấc, cập bến vào mùa Xuân. Họ ở đây mua bán vài tháng chờ gió Nồm bắt đầu thổi là họ trở về vào mùa Hạ. Trước đó Hội-An là vùng đất Châu Rí của vương quốc Chàm cho đến năm 1306 thì thuộc vào lãnh-thổ Việt-nam qua cuộc hôn-nhân dị-chủng giữa Chiêm-vương Chế-Mân và Huyền-Trân Công-Chúa.

Đến đầu thế-kỷ 19, thương cảng Hội-An bắt đầu thưa thớt ghe thuyền một phần vì sự căng-thẳng giữa triều-đình nhà Nguyễn và người Âu-Châu, một phần vì cửa sông Thu-Bồn bắt đầu nông cạn nên ghe tàu khó vào bến trong lúc đó hải-cảng sông Hàn Đà-Nẵng bắt đầu phát-triển thay thế dần cảng Hội-An.

Là nơi hội-tụ nhiều nền văn-hóa của nhiều sắc dân nên Hội-An là một vùng tuy ở đất Việt-nam nhưng mang kiến trúc, món ăn Nhật, Hoa. Nơi đó pha-trộn hài hòa các nền văn-hóa Việt, Chàm, Hoa, Nhật. Ngày nay Hội-An không còn là một thương-cảng mà được thế-giới biết đến như thành-phố cổ, nơi đó người dân vẫn sinh-sống ngay trong những di-tích lịch-sử gần như còn nguyên vẹn. Những căn phố cổ tường gạch, mái ngói âm-dương phủ rêu phong. Những chùa Tàu Quảng-Đông, Triều-Châu, Phúc-Kiến có lối kiến trúc giống hệt như bên Tàu với hoành-phi, câu đối, cột kèo chạm trổ tinh-vi. Những con đường hẹp đưa tới cây cầu Nhật-Bản mái cong phủ rêu xanh mướt. Bước chân vào phố-cổ Hội An, du khách rất ngỡ-ngàng thích-thú tưởng mình ngược dòng lịch-sử, sống lại trong thời kỳ xa xăm nào đó. Nhà cửa, phố xá xưa cũ, cảnh quan biệt-lập với thế-giới văn minh bên ngoài nếu đừng nhìn trang-phục của những người qua lại.

Huế êm-đềm, thơ-mộng nhưng quá trang-nghiêm cổ-kính, Đà-Nẵng văn-minh phát-triển theo kiểu Tây-Phương, Hội-An trái lại dung-hòa giữa hai thái-cực. Người Hội-An thật-thà nhưng cởi mở lại có tâm hồn nghệ sĩ yêu chuộng văn-chương thơ phú kể cả những người gốc Hoa sinh trưởng tại Hội An. Có lẽ vì uống nước ngọt sông Thu Bồn và hít thở làn gió mát Cửa Đại?

VỀ PHỐ CỔ ĂN MÌ CAO-LẦU

Hội-An cách Đà-Nẵng 30 cây-số về hướng Đông Nam. Từ Đà-Nẵng có hai ngả để vào Hội-An: một là theo quốc-lộ 1 xuống Hòa-Vang tới Điện-Bàn rẽ vào bên trái. Nếu quẹo mặt đi về hướng Tây là quốc lộ 14 đi vào dãy Trường Sơn sẽ qua Kontum, Pleiku, Ban-Mê-Thuột, xuống tới Bà-Rá (tỉnh Phước-Long ngày trước bây giờ thuộc tỉnh Sông Bé), Thủ-Dầu-Một và về tới Sài-Gòn. Con đường 14 đi trên dãy Trường Sơn này trước đây là đường mòn Hồ Chí Minh đã hư-hại trong cuộc-chiến, nhiều nơi đứt đoạn không lưu thông được nay đã phục hồi tráng nhựa. Đường thứ hai từ Đà-Nẵng đi Hội-An là con đường ngang qua Ngũ-Hành-Sơn. Năm 1973 tôi thăm Hội-An phải đi bằng Honda ôm ngoài quốc-lộ 1 vì đường Ngũ-Hành-Sơn thiếu an-ninh. Nay trở lại bằng ngã Ngũ-Hành-Sơn, con lộ tuy nhỏ nhưng cũng mới vừa tráng nhựa rất êm.

Tới cửa thị-xã là gặp ngay khách-sạn Hội-An nằm trên đường Trần-Hưng-Đạo, nơi đây du-khách có thể thuê xe đạp để dạo chơi trong thị-xã, ra tắm biển Cửa Đại hay mướn xe Honda để thăm-thú các nơi xa hơn như di-tích Chàm Mỹ-Sơn, Trà-Kiệu. Gần đó trên đường ra cửa Đại là ngân-hàng và nhà bưu-điện. Xe chúng tôi theo đường Nguyễn-Huệ đi về hướng bờ sông và đậu ở ngã tư Nguyễn-Huệ và Phan-Chu-Trinh, nơi đây buôn bán nhộn nhịp vì cách chợ không xa. Đây là chợ hoa Tết của thị-xã, những chậu hoa cúc đại-đóa vàng tươi, cành mai, chậu vạn-thọ và tranh liễn, câu đối trang hoàng trong ngày Tết. Xuống xe nghe mấy đứa trẻ bảo nhau : “ Khách du-lịch Đại Hòn (Đại-Hàn)”. Một đứa cãi lại : “Không phải, người Việt-Nam mà!”. Chúng tôi vào một tiệm ăn rộng bằng hai căn phố trên đường Nguyễn-Huệ và nối gót bước lên cầu thang để lên lầu trên. Có lẽ đã đặt trước bằng điện-thoại nên khi chúng tôi vào thì các bàn đã được đâu vào nhau thành một dãy dài, đủ chỗ ngồi cho hơn hai mươi người. Sau khi hỏi mọi người uống gì thì vài phút sau món mì cao-lâu đã được dọn lên. Sợi mì giống như mì Quảng nghĩa là làm bằng bột gạo pha với nghệ nên có màu vàng tươi. Nhưng khác với mì Quảng, mì cao-lâu ăn khô với những lát thịt heo xá-xíu thái mỏng và một ít rau sống sợi nhỏ, phía dưới là giá trụng. Chén nước lèo nóng để riêng với chút hành, tiêu rắc trên mặt. Một dĩa thịt heo luộc được dọn lên ăn kèm với rau thơm, bánh đập chấm với nước mắm cái làm bằng cá cơm. Đây là một món ăn đặc-biệt của Hội-An cũng như món hến xào xúc bánh tráng nướng. Thịt heo dai và ngọt thịt lại không có mùi hôi. Người chủ tiệm ăn cho biết heo vùng Quảng Nam nhỏ con và nuôi rất lâu lớn, trái lại thịt chúng nổi tiếng ngon nhất Việt-Nam. Thịt heo không cần chế-biến cầu kỳ, chỉ cần luộc thôi cũng đủ ngon rồi! Từ trên lầu tiệm ăn đưa mắt nhìn xuống đường, hai bên hai dãy phố cũ kỹ, mái ngói xanh rêu, du-khách từng toán nhỏ chầm chậm rảo bước trông có vẻ thư-thái an-nhàn. Cao-lầu thường đi đôi với tửu-điếm là tiếng Hán-Việt có nghĩa là nhà hàng và quán rượu. Mì cao-lầu có nghĩa là mì bán ở nhà hàng khác với mì nấu ở nhà. Nhưng cũng có thể ngồi trên lầu cao ăn mì nên gọi là mì cao lầu ?

Bước chân xuống lầu rời khỏi tiệm ăn thì phía bên kia lộ một dãy xe xích-lô đã chờ sẵn. Các anh chàng đạp xích-lô người nào cũng ốm nhưng có thể không …yếu, da sạm nắng nhưng rất vui-vẻ, nghiêng xe cho chúng tôi bước lên mỗi người một chiếc. Trong khu phố cổ không cho xe có động cơ lưu-thông nên đi xích-lô là tiện nhất. Đã lâu lắm rồi không ngồi xích lô nên lấy làm thú vị. Xe chạy chầm chậm, gió biển trong lành hiu-hiu thổi, qua các phố xá, mọi người hai bên đường mỉm cười nhìn một đoàn xích lô nối đuôi nhau thành một hàng hơn 20 chiếc.

NHÀ BẢO-TÀNG VÀ CHÙA ÔNG

Bây giờ đã hơn một giờ chiều, nắng trưa cuối năm không gay-gắt mà lại vàng nhạt thêm gió mát từ biển thổi vào rất thoải-mái và dễ chịu. Trên con đường Nguyễn-Huệ đi về phía chợ người ta mua bán tấp nập. Nơi đây có những nhà hàng mà bảng hiệu lại để là tiệm cà phê như “Café 20”, “Café 22”, lấy số nhà đặt tên. Có lẽ môn-bài đăng ký kinh doanh chỉ bán cà-phê để đóng thuế ít đi? Hầu hết thực-khách ngồi nơi quán cà phê là du-khách da-trắng, đầu đội nón vải, chân mang giày bố, lưng đeo ba-lô. Họ ngồi nhâm nhi tách cà-phê trông có vẻ thảnh-thơi, nhàn-nhã. Băng qua con đường Trần-Phú là tới chợ. Nếu đến đây sáng sớm du-khách sẽ thấy người ta đem cá tươi, tôm sống từ dưới ghe lên. Chợ nhỏ nhưng cũng đầy đủ mọi thứ từ thịt thà, tôm cá, hoa quả, rau cải bày biện coi cũng rất vui tươi, nhiều màu sắc. Sông Thu-Bồn sau chợ cũng nổi tiếng về loại cá hanh rất ngon thịt.

Chúng tôi vào xem nhà bảo-tàng văn-hóa và lịch-sử của Hội-An nằm ngay trước cửa chợ đối diện với các quán cà phê. Nơi đây trước kia là Chùa Quán-Âm nay dùng làm Nhà Bảo-Tàng, bán vé vào cửa để dân chúng vào xem cổ vật như tượng Chàm, hình ảnh, bản đồ, vật liệu dùng trong việc xây cất nhà cửa trong vùng. Bên cạnh Nhà Bảo-Tàng qua một khoảng sân có hòn-non xây trên ao cá vàng, chúng tôi qua Chùa Ông của người Quảng-Đông. Hai bên lối vào chánh điện có tượng hai con ngựa lớn như ngựa thật và hai hộ-vệ mặt mũi dữ-dằn. Một trong hai con có lẽ là con Xích Thố ngựa trung thành của Quan Công. Trên chánh-điện là tượng Quan-Công, một tướng bên Tàu thời Tam-Quốc, mặc chiến-bào, mặt đỏ, chân mày xếch và bộ râu đen dài.

CHÙA PHƯỚC-KIẾN

Rời chùa Quảng-Đông chúng tôi lại vô chùa Phước-Kiến. Chùa nào cũng cột gỗ đỏ, mái ngói cong nhưng chùa Phước-Kiến trang trí màu mè hoa lá hơn. Trước chùa là khoảng sân gạch trồng nhiều chậu cảnh rất đẹp. Đặc-sắc nhất là rễ một gốc cổ-thụ đã được tạc thành đầu những con thú. Chùa tọa-lạc tại số 35 đường Trần-Phú được xây từ cuối thế-kỷ 17 và suốt 300 năm qua đã được nới rộng và tu-bổ nhiều lần. Chùa thờ Bà Chúa Thiên-Hậu, vị thần của biển cả. Người Phước-Kiến đến VN bằng đường biển do đó họ lập chùa thờ Thiên-Hậu để tỏ lòng tạ ơn thần đã che-chở họ đến bờ được bình-yên. Bước qua ngưỡng cửa chùa là một tấm gỗ chắn ngang (dường như để người bước vào phải cúi đầu nhìn tấm gỗ), tường bên phải đắp một bức tranh diễn tả con thuyền bị phong-ba bão táp với hình Bà Thiên-Hậu tay cầm lồng đèn đến cứu-giúp. Tường bên trái diễn tả trận chiến của một danh-tướng người Phúc-Kiến. Phía gian trong thờ tượng Bà Thiên-Hậu chánh gốc được tạc từ bên Tàu đặt trong hộp kính. Mô hình chiếc thuyền gỗ của người Phúc-Kiến vào thế-kỷ 17 được đặt tại đây. Phía sau chánh điện thờ Thần Lộc và 12 bà vợ của ông ta. Những phụ-nữ hiếm muộn thường tới đây để cầu tự cũng như những người tới đây để cầu may mắn, làm ăn phát đạt.

NHÀ THỜ TỘC TRẦN

Kế đến vào thăm ngôi nhà cổ của dòng họ Trần ở ngã tư Lê-Lợi và Phan-Chu-Trinh. Ngôi nhà được xây bởi một viên quan dưới thời Gia-Long đã gần hai trăm năm và lần sửa chữa cuối cùng vào khoảng 1930 sau một trận hỏa-hoạn. Ngôi nhà được bao bọc bằng tường rào cao và có một cánh cổng để vào sân nhà theo lối nhà bên Tàu. Hiện ngôi nhà được liệt vào di-tích lịch-sử quốc-gia và những người trông coi tại đây nói rằng là con cháu của chủ ngôi nhà. Trong sân có một cây Thiên-Tuế (Sago Palm) rất lớn đang nở hoa có lẽ được trồng cùng thời với ngôi nhà. Vào bên trong nhà có trưng hình vị quan họ Trần chủ ngôi nhà và một người làm việc tại đây cho biết vị quan trên đi sang Tàu ở luôn bên đó và để căn nhà lại cho triều-đình. Trên bàn thờ gia tiên đặt nơi gian nhà chính là những hộp bằng gỗ. Mỗi hộp bên trong đựng bài-vị ghi tiểu-sử của một người thuộc tổ tiên của dòng họ nhà Trần.

Hội-An còn những ngôi nhà cổ khác mở cửa để cho khách tham-quan, du-khách cứ tự-nhiên đi vào không cần mua vé, sẽ có người hướng-dẫn giải-thích mọi việc. Nếu thích chỉ cần mua một vài món đồ kỷ-niệm bán bên trong nhà là đủ. Các căn nhà đó phải kể là cửa hiệu đồ cổ Diệp-Đồng-Nguyên, ngày xưa là tiệm thuốc Bắc, nay bán các loại đồ cổ và “nhái” cổ. Ngôi nhà Tân-Ký ở số 101 Nguyễn-Thái-Học, được làm bằng gỗ mít chạm trổ rất tinh-vi, khéo léo đã 200 tuổi với kiến trúc phối-hợp giữa Tàu và Nhật. Ngôi nhà Phùng Hưng ở số 4 Nguyễn-Thị-Minh-Khai bên kia Chùa Cầu. Đây là kiến-trúc phối-hợp giữa Tàu, Nhật và VN, mái ngói âm dương được đặt trên sườn nhà gồm 80 cột kèo làm bằng gỗ nối kết với nhau toàn bằng mọng, không dùng đến một cây đinh sắt hay bù lon nào. Đặc biệt ngôi nhà cổ hai tầng nhưng gian giữa tầng dưới để trống để có thể chuyển đồ đạc lên lầu trên trong trường hợp tầng dưới bị nước ngập. Hội-An là vùng đất thấp hầu như năm nào cũng bị lụt từ tháng 9 cho đến 23 tháng 10 âm-lịch, trung bình nước lên cao 6, 7 tấc trong nhà. Nạn lụt năm 1999, mực nước trong ngôi nhà Phùng-Hưng này lên đến 1 thước rưỡi. Các cột nhà được đặt trên những tảng đá vuông mà ta thường gọi là nhà kê để tránh cột ẩm-ướt mục dưới chân. Những người cư-ngụ trong ngôi nhà hiện nay là cháu 8 đời của người xây căn nhà, họ sinh sống bằng nghề tiếp đón du-khách vào xem và bán áo thun , đồ kỷ-niệm.

CHÙA CẦU NHẬT-BẢN

Cây cầu do người Nhật sinh sống tại Hội-An cất vào thế-kỷ 16 trên một con rạch chảy ra một nhánh nhỏ của sông Thu-Bồn. Cây cầu cong được che bằng 6 mái lợp ngói âm dương phủ rêu xanh rì. Nơi đầu cầu người VN đã cất cái am nhỏ thờ Bà Thiên-Hậu phù-hộ cho ngư-dân ra biển đánh cá an-toàn. Đầu cầu phía Đông, hai bên có đặt tượng hai con chó ngồi giữ cầu. Đầu cầu phía Tây là tượng hai con khỉ. Bốn tượng này được người Việt mình tạc bằng gỗ mít và ai đó đem nhang đèn tới cúng kiếng trước 4 tượng. Chùa Cầu là một kiến-trúc Nhật khá độc đáo còn sót lại, là danh-thắng (landmark) tượng-trưng cho Hội-An.

Rời Chùa Cầu chúng tôi tiếp tục ngồi xích-lô đi dọc theo bờ sông trên con đường Bạch-Đằng. Buổi chiều cuối năm gần Tết là mùa thủy triều cường nên nước sông Thu-Bồn dâng cao, mấp mé gần tới mặt lộ. Du-khách Tây-Phương ngồi trên thuyền máy chạy ngược xuôi trên dòng sông trông rất đông vui. Trên bờ phía bên kia con lộ là dãy phố xưa cũ, nay hầu hết là những quán ăn, tiệm cà-phê. Nổi tiếng nhất là tiệm Café Des Amis gần chợ đối diện với bến xuồng. Các tiệm này lúc nào cũng có du-khách Tây-Phương và họ thích thú là cứ ngồi xuống là có người đem thức ăn ra sẵn mà không cần phải chọn lựa món lôi thôi. Những món được dọn ra cũng là những món đặc sản của xứ Quảng như bánh bao, bánh vạc, mì Quảng, mì cao-lầu, cơm thịt heo nướng…

Khu phố cổ Hội-An từ Chùa Cầu và con đường Trần-Phú xuống tới bờ sông được UNESCO là Tổ-Chức Văn-Hóa của Liên-Hiệp-Quốc liệt vào Di-Sản Văn-Hóa Thế-Giới trong năm 1999 cùng với thánh-địa Mỹ-Sơn. Một dạo chủ những ngôi nhà trong khu này kháo với nhau rằng: “Mình chẳng cần làm gì hết, mỗi năm Liên-Hiệp-Quốc sẽ cấp cho mỗi nhà vài ngàn đô-la để tu-bổ cho di-sản thế-giới!” Hiện nay dân-chúng Hội-An sống nhờ vào ngành du-lịch như tiệm ăn, nhà trọ, bán tranh, đồ kỷ-niệm, làm lồng đèn vải, tiệm thêu may. Mỗi đêm 14 âm-lịch toàn khu phố cổ tắt tất cả đèn điện mà chỉ thắp bằng đèn lồng trước cửa mỗi căn nhà. Sáng kiến khôi phục việc thắp đèn lồng bắt đầu từ mùa Thu 1998, nhằm làm sống lại thời kỳ xa xưa, phố xá ngày đó mà chủ nhân là người Trung-Hoa và Nhật đều thắp đèn lồng trong khi người Việt dùng dĩa đèn dầu lạc. Đêm 14 hoa-đăng cả khu phố mang một vẻ lãng-mạng, lung-linh, huyền-ảo. Mỗi nhà đều ngưng sử-dụng TV, đèn néon, đèn đường mà chỉ thắp đèn lồng, đèn dầu hoặc nến. Du-khách rất thích thú trong đêm hoa-đăng này và có ấn-tượng, kỷ-niệm khó quên khiến họ sẽ trở lại Hội-An nhiều lần nữa.

TRỊNH HẢO TÂM (Trên Những Nẻo Đường Việt Nam)