Cúng Cô Hồn Tháng Bảy – Xưa và Nay

Vu Lan hay còn gọi là Tết Trung Nguyên (vì rơi vào ngày Rằm Tháng Bảy Âm Lịch) là một trong những ngày lễ chính của Phật Giáo, còn được hiểu là Lễ Báo Hiếu. Ngoài ra, Rằm Tháng Bảy còn có nhiều ý nghĩa:

Thứ nhất, Rằm Tháng Bảy được gọi là ngày Phật Hoan Hỷ, chấm dứt ba tháng an cư thanh tịnh của Chúng Tỷ Kheo.

Thứ hai, ngày Tăng Tự tứ. Tự tứ là cầu cho người khác chỉ ra lỗi của mình để biết mà sám hối. Sau ba tháng an cư tu tập, Ðức Phật dạy hàng Tỷ Kheo phải cầu mong những vị có giới đức thanh tịnh hơn mình chỉ lỗi lầm cho. Nếu mình tự thấy mắc phải lỗi lầm đó thì phải phát lộ sám hối để tâm được thanh tịnh.

Thứ ba, ngày Tăng Thọ tuế. Thọ tuế là nhận tuổi. Theo thế gian, cứ một năm tăng một tuổi, nhưng theo Luật Phật Chế, hàng xuất gia thọ giới của Ðức Phật được tính tuổi theo hạ lạp. Nghĩa là năm nào có an cư kiết hạ trọn vẹn thì năm đó được tính thêm một tuổi. Hạ lạp được tính vào ngày Rằm Tự tứ, sau khi đã tu hành tròn ba tháng hạ. Nếu vị Tỷ Kheo nào thọ giới rồi mà không an cư lần nào thì không có tuổi hạ. Hạ lạp còn được gọi là giới lạp hay pháp lạp.

Thứ tư, ngày Vu Lan xá tội vong nhân. Ðây là một đại lễ nhằm báo hiếu cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã khuất của người con Phật. Tích Vu Lan bắt nguồn từ tích báo hiếu của Tôn Giả Mục Kiều Liên trong kinh Vu Lan Bồn. Ý nghĩa của câu chuyện là những người nào tạo tội ác trên thế gian thì khi chết đi bị quả báo nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, chịu sự hành hạ cùng cực như người bị treo ngược. Người sống, nghĩ đến công ơn cha mẹ kiếp này và nhiều kiếp trước, trong ngày Vu Lan, Phật tử thường đem tâm trí thành, chí hiếu sắm sửa lễ vật cúng dường Tam Bảo cầu nguyện cho thân nhân, tiền vong của mình được thoát khỏi cảnh khổ đau.

Lễ Cúng Cô Hồn khác với lễ Vu Lan dù được cử hành trong cùng ngày Rằm Tháng Bảy. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ nhiều đời được siêu thoát, một đằng là để bố thí thức ăn cho những vong hồn không nơi nương tựa, không người cúng kiếng. Theo wikipedia.org, sự tích Cúng Cô Hồn đại khái như sau:

Cứ theo “Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh” mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói: “Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên”. A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi là “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng Diệm Khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Phóng Diệm Khẩu mà nghĩa gốc là “thả quỷ miệng lửa”, về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành “tha tội cho tất cả những người chết”. Vì vậy, ngày nay mới có câu: “Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân”.

Cúng cô hồn xưa…

Ðể cúng cô hồn, người ta hay thắp hương, đèn (hoặc nến). Thường thì người ta khấn vái thầm thì với nội dung mời “bà con cô bác” (ý nói các cô hồn) thụ hưởng các món cúng. Ðôi khi người ta đọc một bài văn tế cô hồn. Bài văn tế nổi tiếng nhất là bài Văn tế thập loại chúng sinh của đại thi hào Nguyễn Du. Nhiều bài tế cô hồn phóng tác dựa theo tác phẩm này với nội dung phù hợp với hoàn cảnh của địa phương nơi cúng.

Các món đem cúng thường luôn có hương, hoa, đèn; gạo, muối, nước lã là những đồ cúng thô hầu như luôn có, kèm theo là các món ăn, tráng miệng v.v… Trong chùa hoặc tại các gia đình có truyền thống Phật Giáo, người ta cúng bằng các món ăn chay. Một món đặc biệt hay gặp trong mâm cỗ cúng cô hồn là món cháo loãng, người ta tin rằng món này dành cho những linh hồn bị đày đọa phải mang một thực quản nhỏ hẹp không thể nuốt được thức ăn thông thường.

Buổi cúng thường kết thúc với việc vãi gạo, muối ra sân, ra đường và đốt vàng mã. Nhiều nơi, người ta cho phép trẻ con cướp cỗ cô hồn khi việc cúng được tiến hành xong.

Tại Hội An, lễ cúng cô hồn được gọi là Lễ Xô Cộ. Lễ này thường tổ chức vào Tháng Giêng hay Tháng Bảy Âm lịch, với mục đích dâng cúng các phẩm vật lên các vị thần hộ mạng thờ trong chùa các Bang Hội, cầu xin sự an bình trong cuộc sống, sự tiến đạt trong công việc làm ăn, buôn bán, và dâng cúng cho các giới vô hình như ma, quỷ, các cô hồn… khỏi quấy phá địa phương.

“Theo trang mạng xuquang.com, Hội An có 5 bang hội lớn của người Hoa, mỗi bang đều có riêng một chùa, vừa làm chỗ thờ tự vị Thần Bổn Mạng. Ngoài việc tổ chức các ngày rằm lớn: Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên để dâng lễ cúng bà Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị thần bảo hộ các thuyền nhân trên biển cả, Quan Thánh Ðế Quân hay Phục Ba đại tướng Mã Viện, các bang hội còn tổ chức trọng thể lễ Xô Cộ tại các chùa bang hội. Mỗi bang hội tổ chức xô cộ riêng biệt của bang hội mình. Tùy theo khả năng tài chánh thu hoạch mỗi năm, tùy theo sự cầu nguyện của mỗi bang hội, các cộ quả phẩm dâng cúng được đặt làm theo tiêu chuẩn khác nhau, như cộ heo, cộ bánh, cộ gạo nếp, cộ muối, cộ trái cây v.v… Mỗi cộ có một sườn cốt làm bằng tre, đan vành tròn làm đế, và trên đế tre nầy, người ta đan một vĩ tre hình chóp nón, bên ngoài phất bằng giấy màu, thường là màu vàng hay đỏ từ dưới đến lên tận trên chóp cộ. Nếu là cộ heo, thì phải dùng 3 con heo quay, rọc xẻ trước ngực, căng 4 chân, gắn úp vào trên sườn giàn tre chóp nón. Nếu là cộ bánh, thì sườn tre được đắp bằng bánh như bánh thuẩn, bánh bò ngũ sắc, bánh lá đủ màu mang các danh hiệu các cửa tiệm buôn, hay các công ty đắp từ dưới đế lên tận trên chóp cộ, trông từ xa như một trái bắp mà các bánh là các hột bắp sắp theo hàng lối đủ màu. Nếu là cộ gạo muối thì sắp các bao vải đủ màu, to bằng nắm tay, độn gạo và muối cho căng đầy, may miệng bao lại, sắp từ dưới lên tới chóp, gắn trên đầu chóp một trái châu đỏ quay tròn theo gió như một chong chóng. Nếu là cộ bánh lá, bánh chưng hay bánh giò thì các bánh nầy cũng được sắp như vậy. Các cộ được đặt trên một giàn tre cao hơn 3 thước, dựng trước cổng chùa.”

“Một vị cao tăng, đầu đội mũ hiệp chưởng, mặc điều y, ngồi trên giàn tre, tay bắt ấn, miệng trì chú lâm râm giữa âm thanh của chiêng trống vang rền pha lẫn với tiếng tang, linh theo nghi lễ Phật Giáo, kêu gọi các linh hồn uổng tử, cô hồn thập loại tập trung đông đủ tại lễ đàn. Theo tiếng hú của vị hòa thượng vừa dứt thì lệnh đẩy các cộ đầy quả phẩm được xô từ trên giàn tre xuống đất, do đó người ta mới đặt cho cái tên là Xô Cộ. Một số cư dân trong phố, trang bị gậy gộc, nai nịt gọn gàng đã tập trung sẵn dưới chân giàn, chờ cộ xô xuống là nhào vô giành chiếm. Những binh sĩ các đồn trại cũng đứng chờ sẵn, xông vào giựt cả một cộ heo quay ôm chạy về đồn, có các đàn em bao che tập hậu, trong khi các băng đoàn khác đuổi theo giành lại trong tiếng la ó gào thét. Theo tin tưởng dân gian, người ta tin rằng những phẩm vật bắt được từ các cộ xô xuống mang nhiều may mắn, vì đó là các tặng phẩm của các vị thần linh đã làm phép, có khả năng làm cho những bệnh nhân kinh niên mau lành, con trẻ khó nuôi sẽ khỏe mạnh chóng lớn. Lễ xô cộ nầy không còn tổ chức hằng năm nữa, vì Trung Hoa đã bị Nhật Bản chiếm đóng và quân đội Nhật đổ bộ ở bán đảo Ðông Dương nên cư dân người Hoa bỏ lễ hội nầy từ năm 1940.”

Trong bài Giựt Giàn (Cúng Cô Hồn) trên trang mạng nguoivietboston.com, tác giả Nguyễn Thị Lộc Tưởng tả cảnh cúng cô hồn ở quê bà năm xưa thật sống động và thú vị. Lễ Xô Cộ được đổi thành “Lễ Thí Thẻ”. Xin được trích:

“Cái thời xa xưa đó, mỗi năm ngày rằm Tháng Bảy cảnh chùa Châu Viên thị xã Châu Ðốc thật là náo nhiệt, trước cổng chùa lúc nào cũng có vài anh xe lôi ngồi chờ khách, trong chùa người đông như kiến, trẻ già trai gái, người chánh điện đốt nhang lạy Phật, kẻ lang thang ngoài sân hút thuốc nói chuyện nắng mưa, trẻ con tụ năm tụ bảy ở mấy cây me tây, đứa dưới gốc, đứa trên cành, mặt mày hồ hởi nói chuyện, cười giỡn, múa tay, múa chân, trèo lên, nhảy xuống như bầy ‘khỉ’ con. Mọi người đang chờ đợi màng náo nhiệt sắp diễn ra.”

“Khoảng 2 giờ, tiếng trống chùa nổi lên như hồi trống thúc quân ‘ra trận’ trong mấy tuồng hát. Sư Ông cầm một đống thẻ tre có ghi số, khi hồi trống dứt Sư Ông gõ mõ tụng kinh mọi người im lặng, không biết là họ đang đưa hồn theo lời kinh tiếng kệ hay đang trong tư thế ‘hồi hộp’ đợi chờ. Khi tiếng kinh vừa dứt nhà Sư quăng thẻ tre từng đợt, khi quăng bên phải, lúc quăng bên trái, sân chùa trở nên hỗn loạn người nầy đè người kia. Tiếng la hét của người giựt lẫn người coi ‘vang dội’ cả ‘góc trời’. Người bắt được thẻ tiền vui mừng hớn hở, kẻ bắt được thẻ ‘tiền giấy’ mặt buồn như ‘đưa đám’. Nhưng cái cảm giác hơn thua chỉ trong chốc lát mọi người trở lại vui vẻ, cười giỡn ‘chọc quê’ nhau. Sau phần thí thẻ tới phần lãnh cộ, cảnh chen lấn không còn nữa, người được thẻ lần lượt trình với Sư Ông. Tùy theo số, Sư Ông sẽ phát cộ, có người được 2, 3 cộ bánh phải cởi áo bọc đem về. Gần 4 giờ chiều phần giựt giàn ở chùa đã xong, anh em tôi hối hả về nhà để tham gia phần giựt giàn trong xóm.”

“Trước khi mặt trời lặn chúng tôi chia thành từng nhóm bàn ‘kế hoạch hành quân’, nhà nầy cúng trước nhà kia không có bao lâu, đôi khi họ cúng cùng một lúc (nhà quê người ta cúng sau khi mặt trời lặn), chúng tôi phải tính thật kỹ nhà nào thường cúng lớn mới ‘dừng chân’. Phận sự tôi giữ chiến lợi phẩm để đàn anh rảnh tay, vì có lần sau khi ‘tàn cuộc chiến’ ông anh phát hiện tôi nằm trong cái nia như ‘con tôm kho tàu’ hai tay chỉ giữ được khúc mía, trán thì ‘rướm máu’. Ðể khỏi mang ‘tang chứng’ về nhà, từ đó mỗi lần giựt giàn tôi chỉ làm ‘thủ kho’”.

“Cúng ở nhà không cần cộ như ở chùa, bánh cấp, bánh cúng, mía khúc, trái cây để trong cái nia lớn hoặc trong chiếc chiếu trước sân nhà, chè xôi nước cúng trên bàn Ông Thiên còn gọi là Thông Thiên, đứa nào muốn ăn thì cho. Trong lúc chủ nhà đốt nhang vái lạy, bọn con nít ngồi xung quanh cái nia chờ lịnh, đến khi nghe ‘xong rồi đó’ thế là cả bọn nhào vô đụng gì thì lấy thứ đó, do dự chọn lựa thì chỉ có tay không, có đứa ‘ma giáo’ thấy trong nia không còn bánh liền giựt trong tay của đứa khác thế là từ giựt giàn thành giựt cùi chỏ rồi tới vật lộn. Giựt bánh xong tới phần giựt tiền, chủ nhà rải bạc cắc trẻ con tranh nhau đứa nầy nhảy lên mình đứa kia như bầy chim se sẽ giành ăn. Chúng tôi giựt giàn không phải vì thiếu ăn, thiếu xài, mà ham vui đôi khi muốn chứng tỏ cho bè bạn biết mình khỏe mạnh hơn người, hoặc đây là cơ hội trả thù ngàn năm một thuở, trong lúc lộn xộn cứ ‘dộng’ vào mặt kẻ thù vài cú cho đã giận chỉ có trời biết, đất biết người không biết.”

“Tôi không bao giờ quên lần giựt giàn nhà bà ‘Ba Ðen’ ở xóm dưới. Gần bến đò Châu Giang. Bà có tiệm hàng xén, rất hung dữ muốn giựt nợ của bà chỉ khi nào ‘nằm xuống lỗ’, nếu không dù bệnh liệt giường còn chút hơi thở vẫn còn nghe giọng ‘chanh chua’ đòi nợ của bà. Ðối với người sống bà ‘đanh đá’ bao nhiêu, đối với ‘người khuất mặt, khuất mày’ bà hiền lành bấy nhiêu. Tối nào cũng đốt nhang cúng lạy, ngoài đường cúng trời, trong nhà cúng Phật. Bà cũng có cúng ‘cô hồn’ với đầy đủ bánh trái như bao nhiêu nhà khác, nhưng không bao giờ chúng tôi được giựt giàn dù một khúc mía sâu của bà vì sau khi cúng bà đem đồ ngon để một bên rồi kêu mấy đứa cháu ra lấy chỉ còn xôi, cháo trắng, đường thẻ trong nia. Có một lần chúng tôi bàn nhau và quyết định đến nhà bà làm một chuyện để đời, thấy chúng tôi bà ra lệnh: ‘Tụi bây phải chờ tao cúng xong chừng nào tao cho mới được giựt biết không?’ chúng tôi trả lời ‘Dạ biết’ y như học trò cùng hát Quốc Ca. Nhìn cái nia nhà bà nào bánh cấp, bánh cúng, mía ‘thâm diệu’ đỏ bầm, có cả mận và quít ngon ơi là ngon, chúng tôi nhẫn nại nghe bà khấn vái: ‘Xin cô hồn các đảng bơ vơ không nơi nương tựa, hữu sinh vô dưỡng, sinh non chết dại, chết bờ chết bụi, chết đâm chết chém, đạn lạc tên bay, xe cán cây đè, rắn mổ rít cắn, thần vòng thắt cổ, một lỗ nhiều thây, hãy về đây… ‘ Ôi!! sao bà nói lâu quá tay chân bọn tôi bắt đầu ngứa ngáy, theo chương trình chờ bà dứt lời mới ra tay nhưng vì bà nói dài quá nên thằng Hiệp đầu đàn nhịn hết nỗi la lên: ‘Giựt’ thế là cả bọn nhào vô thích gì lấy đó, phần còn lại hất cho đổ xuống đất. ‘Ðánh nhanh rút lẹ’, tôi ‘ụt ịt’ nhất cũng phải ráng sức chạy thật nhanh nếu để bà ta nắm đầu là mang họa, bà vừa rượt vừa chưởi: ‘Ðồ cô hồn sống, đồ có cha sanh không có mẹ dạy, quỷ sứ sao không vặn họng bây chết hết cho rồi, bà nội cha bây tao chưa lạy xong…”

Chúng tôi chỉ giựt được một lần đó thôi, những năm sau đó bà “Ba Ðen” chỉ cúng cháo trắng và đường thẻ!

Cúng cô hồn nay…

Tập tục cúng cô hồn tại Việt Nam vẫn được duy trì. Tại những ngôi chùa nghèo hay những xóm lao động người ta thường cúng nhang đàn, giấy tiền vàng mã cho cô hồn “chết”; mía khúc, cóc, ổi, khoai lang, khoai mì, những gói bánh snack và các loại kẹo rẻ tiền cho cô hồn “sống”. Các thứ quà này cho trẻ em nhà khá giả chắc chúng liệng vào thùng rác, thế những trẻ em xóm nghèo sẵn sàng chịu “bể đầu, sứt trán” giành giựt cho bằng được.

Báo chí trong nước từng đưa tin có nhiều vụ đâm chém nhau giữa các băng nhóm chỉ vì giành giựt đồ cúng cô hồn, và trong Tháng Bảy, không ít cô hồn “sống” trở thành cô hồn “chết”!

Những nhà giàu có, các công ty tư nhân hay cơ quan nhà nước thì ngoài những phẩm vật thông thường họ còn cúng cả heo quay, rượu ngoại. Hàng mã thì đủ loại từ tiền đô la Mỹ cho đến nhà lầu, xe hơi, thẻ tín dụng, vé máy bay… có món lên đến cả triệu đồng. Không chỉ là chuyện mê tín dị đoan, những tay “áp phe thời đại” còn dùng buổi lễ cúng cô hồn để “thắt chặt tình hữu nghị” giữa mình và cán bộ có chức có quyền nhằm dành được những hợp đồng béo bở sau này.

Tại Little Saigon, cửa chùa luôn rộng mở trong suốt Tháng Bảy. Mở đầu cho Mùa Vu Lan là buổi Ðại Lễ Vu Lan tại chùa Diệu Quang, Santa Ana vào ngày 27 Tháng Bảy vừa qua (nhằm ngày 24 Tháng Sáu Âm Lịch). Sau đó rất nhiều chùa trong vùng cũng lần lượt lên lịch tổ chức lễ Vu Lan như chùa Phổ Ðà, chùa Quan Âm, chùa A Di Ðà… Các buổi lễ tại hải ngoại đều không mang màu sắc chính trị mà hướng vào tâm linh con người, phẩm vật cúng bái cũng đạm bạc, đơn giản. Mục đích chính là cùng nhau tỏ lòng hiếu kính với nội ngoại tôn thân nhiều đời, nhiều kiếp; mở lòng Bồ Tát với người nghèo khó; tri ân các chiến sĩ trận vong, những đồng bào tử nạn trên đường tìm tự do; tiến cúng Thập Loại Cô Hồn đồng thời không quên cầu cho đất nước dân tộc sớm được tự do, dân chủ, nhân quyền.

Cũng trong Tháng Bảy, một số chùa tổ chức cho Phật tử rải tro cốt người thân đã khuất ra biển với mong ước vong hồn được sớm siêu thoát.

Một số gia đình theo đạo Phật, các cơ sở thương mại cũng tổ chức lễ cúng cô hồn nhưng hầu như không có cảnh trẻ em “giựt cỗ” như trong nước. Ðó cũng là một điều tốt, nhưng thiếu vắng cái không khí hồi hộp đợi chờ, chen lấn xô đẩy để lấy được một khúc mía, một cái oản cũng làm nhiều người chạnh lòng khi hồi tưởng.

Tổng hợp: Vũ Ðình Trọng/Người Việt