Tục lệ cưa răng

Với nhiều cộng đồng tộc người, có thể, tục cưa răng ban đầu là một dạng tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp, mang tính chất cầu mùa v.v… Bởi, người thiểu số thường dùng trâu làm vật hiến sinh dâng tặng thần linh (Yang). Từ đó, việc cưa răng để giống răng trâu hình thành như một dạng thức tôn thờ linh vật.

Từ thời xa xưa, trâu được xem là vật thiêng, được người Ba Na tôn thờ làm vật tổ (Nguyễn Quang Lê, 2004: 28). Trong quan niệm của tộc người này, những đối tượng không cưa răng, sau khi chết linh hồn không thể về với thế giới tổ tiên. Một số tộc người khu vực Trung Á cho rằng bộ răng phải lấp lánh vàng mới là bộ răng đẹp và quyền quý, chính vì thế, nam nữ thanh niên trong cộng đồng đều ghè bớt răng để nạm vàng. Trai, gái người Ngật Lão (ở Tứ Xuyên, Trung Quốc) đến tuổi trưởng thành đều phải nhổ 2 răng ở hai bên của hàm trên để làm đẹp (Trịnh Sinh, Nguyễn Văn Huyên, 2001: 18). Hay người Naga ở Mianmar có tục lệ vừa cà răng và nhuộm răng.

Hình thức này cũng rất phổ biến ở tộc người Samrê (Campuchia). Ở người Kh’mer, lễ cà răng chính là một trong những nghi thức cổ xưa từng tồn tại (Ngô Văn Doanh, Vũ Quang Thiện, 1996:136). Hoặc như người Kinh cũng có tục lệ nhuộm răng đen, để khi cười không để lộ rõ hàm răng “trắng nhỡn như răng chó”, và quan niệm: “cái răng, cái tóc là góc con người”.

Và những biểu hiện ở tộc người Katu

Ðối với người Katu, tục lệ cưa răng có từ lâu đời, đó là hình thức bắt buộc đối với mỗi một thành viên trong làng (vêêl). Cưa răng, ngoài chức năng làm đẹp, còn là nghi lễ đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thiếu niên sang tuổi trưởng thành: lễ thành đinh. Sau nghi lễ này, cá nhân thực sự trở thành thành viên chính thức, cùng chia sẻ những quyền lợi cũng như nghĩa vụ đối với gia đình, dòng họ, bản làng, và tất nhiên, sẽ được cộng đồng kính trọng khi về già.

Luật tục Katu quy định: điều kiện tiên quyết để trở thành thành viên, được cộng đồng thừa nhận, được quyền thiết lập quan hệ hôn nhân v.v… là cá nhân đó phải trải qua nghi lễ cà răng. Những chiếc răng mài mòn đến tận lợi là dấu hiệu rất quan trọng trong cuộc đời mỗi cá nhân về mặt tuổi tác cũng như tư chất, nếu không trải qua nghi thức này, dù tuổi lớn đến bao nhiêu đi chăng nữa, thì vẫn bị xem là người chưa trưởng thành – nghĩa là chưa đủ điều kiện để xây dựng gia đình, và quan trọng nhất, họ chưa đủ tư cách để tham gia vào các hoạt động lớn của vêêl – chưa phải là thành viên của cộng đồng. Với một ý nghĩa rất quan trọng, tục cà răng không những liên quan đến quan niệm thẩm mỹ của người Katu, còn là sự kiện đánh dấu việc xác lập vai trò và quyền lợi của cá nhân trong xã hội. Mặt khác, đây cũng là hình thức thử thách lòng dũng cảm, sức chịu đựng của cá nhân như một dạng hành xác, huấn luyện sức chịu đựng tinh thần v.v…, đặc biệt là đối với nam thanh niên – những trụ cột chính trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Qua khỏi “ngưỡng cửa” này, cá nhân đủ điều kiện trở thành thành viên chính thức trong gia đình, dòng họ (cabu) và trong vêêl, “những chiếc răng bị cưa” cũng rất có giá trị đối với những cộng đồng khác làng và khác tộc.

Riêng với cộng đồng làng cư trú, nếu là con trai, tối đến anh ta sẽ được ngủ ở nhà làng (Gươl), nghe già làng truyền đạt các kinh nghiệm trong đời sống thường nhật, cũng như trong sản xuất; có quyền tham gia vào những “cuộc săn máu” (trong quá khứ – nếu cần thiết cho làng vêêl); đi sim – hẹn hò với bạn tình trên rẫy, hát với bất cứ cô gái mình thích ở trong hoặc ngoài vêêl và khi có lễ hội.

Nếu là con gái, cô ta cũng được tự do làm những việc tương tự: hẹn hò cùng người con trai của lòng mình, hay cất lên những giai điệu Baboách mời gọi bạn tình. Ngược lại, những đối tượng không cưa răng sẽ bị xem là hèn nhát, không có lòng dũng cảm, không làm tròn nhiệm vụ của một thành viên đối với luật tục làng vêêl, người con trai sẽ không được ngủ ở Gươl mỗi khi đêm về, thậm chí không được phép lấy vợ , và điều quan trọng nhất, anh ta sẽ không có được sự bảo vệ của cộng đồng trước những biến cố mang tính cá nhân.

Trước đây, tục cưa răng của người Katu thường diễn ra vào “thời gian nông nhàn”. Lúc này, lúa trên nương đã vào kho và công việc săn bắt, hái lượm v.v… chuẩn bị cho lễ hội được tiến hành. Ðịa điểm cưa răng thường là những nơi có thác nước đổ mạnh. Ở đó, tiếng ầm ào của dòng nước, không gian thoáng đãng của thiên nhiên sẽ là liệu pháp tâm lý giúp đối tượng quên đi đau đớn, sẽ làm dịu bớt sự căng thẳng trong lòng mọi người. Bên cạnh đó, tiếng gầm thét của thác nước cũng là âm thanh dùng để lấn át tiếng kêu la, cách thức để ma xấu (Abhui mốôp) không nghe thấy, nhằm né tránh và hạn chế tối đa sự quấy rối, làm hại của các ác thần đối với đối tượng cưa răng.

Trước khi tiến hành cưa răng, để phòng tránh những rủi ro bất thường, đồng thời an ủi tất cả linh hồn (rơ vai) sống trong vêêl, người Katu thường tổ chức các nghi lễ cúng tế (bhuôi) cho các vị thần hộ mệnh. Chủ làng (Tacovêêl) sẽ làm một con gà, lấy máu (A hăm/A hơm) chấm lên trên trán những đối tượng bị cưa răng, với ngụ ý chúc phúc, cầu xin sự giúp sức của thần linh, giúp họ không chảy nhiều máu v.v…, và quan trọng nhất là không gây chết người.

Tục cưa răng của người Katu ngày xưa dành cho cả nam và nữ, là thành viên của vêêl có độ tuổi từ 15 – 17 , những đối tượng này được bàn bè và người thân giúp đỡ trong khi tiến hành cưa răng.

Trước khi diễn ra lễ cưa răng, Tacovêêl chọn ba người đàn ông uy tín, đến địa điểm cưa răng của vêêl4. Hai trong số ba người đàn ông này sẽ dùng một “lưỡi cưa” (cái rựa đã được làm hình lưỡi cưa) để cưa răng. Ðối tượng cưa răng sẽ nằm bên thác nước, một người ngồi trên bụng, hai đầu gối khép chặt vào thân, những người khác trong vêêl giữ lấy tay, chân và đầu của người bị cưa, rồi họ thay nhau cưa.

Các tộc người ở Tây Nguyên thường cưa 6 răng ở hàm trên, nhưng đối với người Katu, để tạo sự cân đối giữa hàm trên và dưới, nên số lượng răng cưa bao giờ cũng là 12 cái (hàm trên 6 cái, hàm dưới 6 cái). Khi 12 chiếc răng được cưa đã mòn hết. Công việc tiếp theo của người đàn ông thứ ba là dùng những viên đá lấy ở dưới suối, mài những chiếc răng mòn đến sát lợi.

Theo kinh nghiệm của người Katu, để bảo vệ vết thương và chống nhiễm trùng, họ thường dùng nhựa một loại cây có tên là Axớp/Axáp bôi vào chỗ vết răng vừa bị cưa, lá và vỏ của nó được nấu lên để uống. Trong giai đoạn cưa răng, khi máu chảy nhiều, các đối tượng này dùng nước muối để súc miệng, nhổ máu vào ống tre (cơ ram). Xong việc, ba người tiến hành việc cưa răng dùng lá đót (a teeng) nhét đầy vào ống tre đó, đặt lên một tảng đá gần địa điểm cưa rất cẩn thận. Nếu những ống tre đó bị ngã trong khi đặt, người Katu cho rằng người bị cưa răng sẽ gặp điều chẳng lành, đó là dấu hiệu cho biết các thế lực hung ác đang đe dọa họ, khi ấy, một cuộc cúng tế sẽ được tiến hành nhằm làm nguôi lòng thần linh.

Khi các đối tượng được đưa về Gươl thì công việc cưa răng xem như đã kết thúc, lúc này, người bị cưa răng phải ở lại đó 3 đêm mới được về nhà. Trước khi vết thương lành hẳn, những cá nhân này được người thân cùng các thành viên trong vêêl chăm sóc cẩn thận, họ ăn loại cơm được nấu bằng ống tre có lót lá chuối bên trong (Avixrlung) và buộc phải thực hiện một số kiêng cữ (điêng) mà luật tục của vêêl đã quy định..

Ðể chứng tỏ sự trưởng thành của mình, sau thời gian ba đêm, các đối tượng bị cưa răng phải ra suối, dùng tay bắt một loại cá có tên là Ha liêng dành riêng cho họ. Ngoài ra, một số thức ăn sẽ bị cấm sử dụng trong vòng một năm như: gạo nếp, thịt trâu, bò cùng một số động vật săn bắn khác; không được tắm rửa, uống rượu trong vòng một tháng; uống nước phải dùng một ống tre bỏ hai phần đầu mắt và dùng tay bịt kín phần đáy lại, sao cho nước không chảy ra. Họ chỉ uống khoảng 1/2 số lượng nước trong ống tre rồi đổ đi, khi ăn phải dùng tay v.v… Nhờ vào những kiêng cữ trong cách ăn uống và sinh họat, khoảng ba tháng sau, vết thương bình phục. Các đối tượng bắt đầu tham gia vào công việc dành cho người lớn cùng với các thành viên khác trong bản làng.

Trần Đức Sáng (Theo VH&NT)