Lễ cúng thần Nông trong các ngôi đình ở Nam bộ

Trong tín ngưỡng sơ khai của dân tộc Việt, thờ trời, thần núi, thần sông, thần biển là điều quan trọng bởi xưa kia, cuộc sống của cộng đồng dân cư còn thưa thớt, mà con người lại phải đối mặt với bao nỗi lo, những hiểm nguy từ thiên nhiên mang đến.

Từ đó, ý niệm về thần bắt đầu xuất hiện. Lúc đầu, cuộc sống của họ chỉ là săn bắt, hái lượm quẩn quanh nơi núi rừng, bên bờ sông, con suối… Do đó, chỉ một tiếng gió rít của núi rừng, một tiếng gầm của cọp beo cũng đủ làm cho họ lo sợ. Ý niệm về các thần thánh đã hình thành từ tâm lý đó.

Về sau, khi con người bắt đầu biết trồng lúa thì cũng là lúc thần lúa ra đời. Dần dà, các vị thần khác lần lượt xuất hiện như thần Đậu, thần Dâu tằm… rồi đến thần Nông – vị thần gắn bó chặt chẽ với nền nông nghiệp nước ta. Thần Nông được các cư dân nông nghiệp ở vùng đồng bằng Bắc bộ hình dung là một vị thần đầu đội mũ cánh chuồn và có các động tác như trong quá trình làm mùa.

Thần ngồi lom khom vào đầu xuân, rồi cúi đầu xuống và cúi rạp vào vụ gặt mùa. Về nguồn gốc, truyền thuyết cho rằng thần Nông là vị thần cai quản phương Nam và còn có tên khác là Viêm Đế – vua xứ nóng. Vị thần này xuất hiện trong tâm thức dân gian vào thời đồ đá mới, khi người Đông Nam Á phát triển mạnh nghề trồng lúa. Thần Nông là ông tổ bốn đời của Kinh Dương Vương, năm đời của Lạc Long Quân và sáu đời của vua Hùng Vương thứ nhất.

Ngay từ buổi đầu hình thành làng xã sơ khai, thần Nông đã được đem vào đình làng thờ chung với Thành Hoàng. Trong các lễ hội đình làng ở Bắc bộ, người ta tổ chức rất long trọng lễ hạ điền vào đầu xuân, cử ra một vị bô lão có uy tín trong làng đóng vai thần Nông với mũ áo chỉnh tề, dẫn một số nông dân xuống đồng cày cấy những hàng lúa đầu tiên.

Hầu hết các ngôi đình ở Nam bộ đều do sắc phong của nhà Nguyễn, chủ yếu là đời Tự Đức thứ năm (1852) nhằm xác lập trật tự quản lý xã hội cho tới cấp làng xã và cũng dễ dàng huy động lực lượng giúp đất nước chống giặc ngoại xâm. Điều này cũng làm cho việc thờ tự ở đình mang tính chính thức hơn.

Hàng năm, các ngôi đình ở Nam bộ tổ chức hai kỳ lễ lớn là lễ Kỳ yên thượng điền và lễ Kỳ yên hạ điền. Các ngôi đình không cúng đồng loạt, mà trong một khoảng thời gian theo quy định. Sắc vua phong đến địa phương ngày nào thì địa phương lấy ngày đó làm ngày chính để cúng, vì vậy có khi lễ Kỳ yên hạ điền của làng này lại là lễ Kỳ yên Thượng điền của làng kia. Trong các lễ Kỳ yên, người ta đều bày xôi, thịt để cúng thần Nông – vị thần trông coi lúa gạo, dạy dân cày cấy, giúp cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

Bàn thờ thần Nông được đặt trước sân đình hoặc ở một góc sân đình, để lộ thiên, không mái che, chỉ gồm một bệ đất (có nơi người ta xây bục thờ bằng xi măng, trên đó có ghi dòng chữ “Nền xã tắc”, có nơi lại xây miếu thờ, trong miếu có tấm bảng thờ ghi hai chữ “Thần Nông”). Ở một vài nơi, do chiến tranh tàn phá, do mưa gió của thiên nhiên nên dù bục thờ thần Nông không còn nữa, người ta không xây mới, mà cứ để như thế cúng. Khi cúng, chiếu được trải ra, thức cúng được bày lên và mọi người vào cúng.

Thức cúng bao gồm hương đăng, trà quả, xôi, thịt gia cầm, có nơi cúng dê, gạo, muối. Heo hoặc dê sau khi làm thịt cứ để nguyên con, đem gác trên gối. Bên cạnh đó là dĩa đồ lòng, heo, lông, huyết, một con dao nhỏ với ngụ ý rằng heo còn tươi tốt để mời thần dùng dao xẻ thịt. Đầu heo được đặt quay vào nơi thờ thần.

Có nơi người ta để cả một thúng lúa lên bục thờ, có người còn lấy thân cây chuối kết làm cái cộ bên cạnh thúng lúa, cầu mong thần ban cho nhiều thóc rồi dùng cái cộ này chở lúa đem về nhà.

Trên bục còn có một tĩn nước hay một hũ nước nhỏ và một cái gáo để múc như thời buổi sơ khai. Bốn góc bục thờ thần Nông có bố trí bốn cây đèn cầy tượng trưng cho ngày của Dương thế là đêm của Âm phủ, đêm của thần thánh. Một thau nước và cái khăn để sẵn giúp chánh bái, phó bái rửa tay lau mặt khi tế lễ.

Lính hầu vận lễ phục đứng dài hai bên bục. Mỗi bên khoảng năm người, mang khí cụ. Hai bên có che lọng, dưới đất trải chiếu để tiện việc hành lễ. Đến giờ hành lễ, học trò lễ xướng:

– Tế vị thần Nông A

Vừa dứt thì hương nhạc cho nhạc nổi lên theo điệu đánh Bắc Cấu

– Xướng: Hương quan, hương chức, viên đô tân cựu tựu vị A

– Chánh bái, phó bái, bồi bái tựu vị A

Tất cả những người trong ban trị sự đình đứng chỉnh tề trước bàn thờ thần.

– Xướng: Bổn ban nam nữ tựu vị A

– Bổn thôn nam nữ bình đẳng tựu vị A

Trai gái đều tập trung lại.

– Xướng: Nhạc sanh tựu vị A

Hương nhạc chuẩn bị.

– Xướng: Nhạc sanh khởi nhạc A

Nhạc đánh tiếp giá.

– Xướng: Phần hương A

Chuẩn bị dâng hương.

– Xướng: Nguyện hương A

Ông chánh bái quỳ, dâng hương và đọc bài nguyện.
Bài nguyện trong lễ cúng thần Nông có nội dung như sau:

Phần hương nguyện tưởng thấu đến thập phương tiên cõi. Tạ thiên, tạ địa, tạ quân vương, tiền hậu hiền phục nguyện Tam hoàng Ngũ đế, Tiên Nông tạ vị cung thỉnh thần Nông sinh giáng hộ độ chúng sinh.

Kiến thực, ngưỡng tưởng thần Nông vị an tế.
Lang lại tướng quân thần Hổ trừ an vật hại.
Nay, chúng con nguyện cầu đến Phước, Lộc, lai.
Nay kiết tường vọng thỉnh Bạch Vân Phi.
Lòng tưởng ngưỡng lộc no, bình an, phước thọ.

A di đà phật!

Khi đọc bài nguyện xong, học trò lễ xướng tiếp, chánh bái, phó bái lạy, dâng hương, rót rượu, cứ thế làm theo lời xướng của học trò lễ. Đến hết tuần rượu thứ ba là tới việc đọc văn tế. Văn tế đọc xong được đốt đi. Sau tuần rượu thứ ba là một tuần trà. Nghi thức cúng cũng vậy. Học trò lễ xướng, mọi người làm theo lời xướng. Cho đến khi học trò lễ xướng “Lễ tất A” thì cũng có nghĩa là buổi lễ cúng thần Nông đã xong.

Các vương triều phong kiến trước đây cũng rất coi trọng việc cúng thần Nông. Vua Gia Long lên ngôi năm 1802, đến năm 1806 đã cho xây đàn Nam Giao ở phía Nam Huế để tế trời ba năm một lần và đàn Xã Tắc gần hoàng thành để cúng thần Nông mỗi năm hai lần vào tháng Hai và tháng Tám.

Lễ cúng Thần nông là một lễ hội có tính truyền thống của dân tộc ta, ngoài những mục đích tâm linh như đã nói ở trên còn phản ánh tính trọng nông của người Việt.

Theo TRẦN PHỎNG DIỀU