Phép Vua Thua Lệ Làng

Tổ chức làng xã ngày xưa ở nước mình từ Bắc vô Nam mỗi nơi có khác do hoàn cảnh địa dư và quá trình hình thành trước sau cụ thể của từng vùng.


Thuở sơ khai ấy về mặt tổ chức, nhà vua dựa vào làng và chỉ biết có làng. Làng dựa vào gia đình và chỉ biết gia đình. Do vậy con người thuở đó không có tư cách pháp nhân như ngày nay.

Làng xưa là một pháp nhân. Vua giao cho làng mọi nghĩa vụ và xã quan hay kỳ mục trong làng tùy nghi phân bổ lại cho dân trong làng.

Do vậy có bao chuyên tệ nạn, hủ tục mà nay nghe lại tưởng chừng như chuyện huyền thoại quanh “Phép vua thua lệ làng” của người mình ngày xưa!

Thế nào là lệ làng?

Nước có phép nước, làng là nhà nước nhỏ nên làng có lệ của làng.

Lệ làng là các lề lối, phép tắc tự đặt ra trong làng, lâu ngày thành thói quen. Lệ làng có mục đích phân định vị trí, ngôi thứ và giá trị người dân trong làng như là thứ luật bất thành văn, nó tồn tại lâu dài cho tới khi người Pháp chiếm nước ta.

Lệ làng căn cứ trên quan hệ giữa người với người và quan hệ giữa người với với tự nhiên để xếp thứ bậc con người thành hai nhóm tước vị, gọi là “vương tước” và “thiên tước”.

Vương tước xếp người trong làng ra 5 bậc từ trên xuống. Một là phẩm hàm do vua ban mà có; hai là người sống thọ 60 tuổi trở lên; ba là các kỳ mục tức là những người có chức vụ trong làng; bốn là tư văn gồm người có học vấn tuy không làm quan; năm còn lại là dân đinh gồm tất cả người còn lạ trong làng.

Thiên tước dựa theo tuổi của con người mà xếp bậc. Theo đó chia ra 4 bậc hạng theo thứ tự như. Bậc trưởng thượng là người sống trên 70 tuổi; bậc trung là người sống từ 60 đến 69 tuổi; bậc dưới gồm những ai từ 55 đến 59 tuổi; bậc đồng hạng cho những người dưới 55 tuổi.

Người tuổi cao xếp ở bậc trưởng thượng được mọi người trong xã hội kính trọng. Thế mới nói “Sống lâu lên lão làng” là vậy.

Làng xã Việt Nam, đặc biệt ở miền Bắc dưới mắt người Pháp khi mới đến là những kỳ bí, được ông P.Pasquier ghi lại như sau:

“Ngày nay ta thấy làng người Việt Nam thế nào, thì xưa nay vẫn thế. Nó luôn luôn lẩn tránh con mắt mọi người ngoài. Ta chỉ có thể vào làng một cách khó khăn, và ngay các quan lại, đại diện uy quyền nhà vua, trong khi được tiếp đón ở làng với những lễ nghi và sự trân trọng mà nghi thức và tục lệ quy định, cũng thường chỉ biết ngôi đình hay ngôi chùa mà họ được đưa đến.

Tha thiết với tự do của mình, với tổ chức bên trong của mình, luôn ngờ vực, e rằng vẻ sung túc của làng mình, sự phong phú của vườn tược của mình, con số nhà ở của mình, gợi cho chánh quyền ý nghĩ tăng thêm thuế má, dân làng dấu thật kín con người và tài sản của mình, và tránh né đằng sau cái thực tế vô danh này: là làng xã.

Ta chẳng bao giờ thấy ngôi chùa thờ một đức Phật nổi tiếng bên trong một làng, vì sẽ có quá nhiều người lạ vào chùa trong các thời kỳ trẩy hội, vả chăng mà thiên nhiên có thể tạo cho vị thần cũng không có ở đây. Các chợ búa lớn cũng vậy, bao giờ cũng họp ở các ngã tư đường, gần sông gần các làng, nhưng chẳng bao giờ họp bên trong làng.

Sự tự do của làng xã, muốn được phát huy đầy đủ, cần phải dựng lên quanh nó một bức tường thành thật sự. Ðây là một gia đình đóng cửa để bàn việc riêng, không bị gò bó và không chấp nhận tai nghe của người ngoài…” (Theo Nguyễn Văn Huyên, Văn Minh Việt Nam)

Bên trong những ngôi làng đóng kín, mọi hoạt vận hành theo ngôi thứ mà câu tục ngữ “Một miếng thị làng bằng một sàng thịt chợ” như nói lên cái ngôi thứ trong làng ngày xưa!

Theo đó, người dân thường nếu chưa lên lão là bạch đinh họ phải gánh chịu hầu như tất cả công việc quan sai, phục dịch cho các chức sự không công, và kể cả cầm cờ trống khiêng rước quan chức trong các lễ làng…

Nhưng họ không có chỗ ngồi trong đình làng, không được mời dự việc làng, không có phần ăn uống trong cổ tiệc do làng tổ chức.

Con trai sanh ra không có khai sanh, đến 1 tuổi phải làm lễ “Vào Làng” từ đó cha mẹ phải đóng góp mọi nghĩa vụ thay cho con. Ðến 18 tuổi, thành dân đinh nếu không có ngôi thứ trong làng họ phải chịu sưu dịch và muốn có vị thứ phải đóng tiền cho làng.

Lệ này xuất phát từ năm 1362, vua Trần Dụ Tông cho nhà giàu nạp lúa để mua chức trong làng. Ðến năm 1460 vua Lê Thánh Tôn ra lệ người nào nạp 200 thạch lúa trở lên được chức hàm chánh thất phẩm; dưới 200 thạch được chức hàm tùng thất phẩm; ai nạp 100 thạch được hàm tùng bát phẩm và con cái họ được miễn sưu dịch và miễn lính (Thạch là đơn vị đo lường xưa tương đương 100 lít).

Về sau này lại có lệ nạp tiền thay cho lúa. Qui định rằng người đang làm quan nạp 500 quan sẽ được cho lên một trật; người dân thường ai nạp 2,500 quan được cho chức phụ quan (Quan tiền là đơn vị tiền tệ xưa, 1 quan bằng 10 tiền).

Ðến thế kỷ XIX, vào thời Tây, dân làng đàn ông chia ra ra 3 hạng theo tuổi nhằm qui định thuế và sưu dịch. Sưu là công việc nặng nhọc mà dân đinh phải đóng góp cho làng nước như là thứ nghĩa vụ.

Hạng tráng, đàn ông từ 20-55 tuổi phải làm nghĩa vụ đi lính và lao dịch; hạng dân đinh từ 18 đến 20 tuổi chưa đến tuổi lính nhưng phải chịu sưu, và sưu sau này thay bằng tiền gọi là thuế thân.

Người không có tài sản đóng thuế thân 1 đồng ở Bắc kỳ, 6 hào ở Trung kỳ và ở Nam kỳ thì nhiều hơn. Người 60 tuổi trở lên khỏi thuế thân.

Việc chọn lựa xã quan trong làng ban đầu do vua chỉ định. “Chức xã trưởng trước hết là người phải giữ gìn phong hóa… kén chọn trong làng, con em nhà lương gia, các nho sinh, các con cháu quan viên, các nhiêu nam sinh đồ cùng những người có học thức có tính thanh liêm công bằng, cần cù siêng năng bầu lấy một người lam xã quan để viên chức ấy làm tiêu biểu cho hương xã…”

Hội đồng kỳ mục ngoài Bắc gồm những người có phẩm hàm trong làng. Hội đồng này chọn ra lý trưởng lo giao dịch chánh quyền, phó lý lo an ninh, tiên và thứ chỉ là nhân viên chấp hành của hội đồng lo mọi việc. Dưới có nhân viên thừa hành như xã tuần hay trương tuần canh gác, giữ an ninh họ không có thù lao.

Danh từ xã quan đến đời Minh Mạng đổi thành lý trưởng, tới thời Pháp thì chức hội đồng kỳ mục và lý trưởng là người của Pháp!

Nam kỳ năm 1927 làng được diều hành bởi ban hội tề gồm có 13 hương chức. Gồm:

- Hương cả là người đứng đầu, hai phó là hương chủ, hương sư.

- Các thành viên: Hương Trưởng, Hương Chánh, Hương Giáo, Hương Quản, Hương Bộ, Hương Thân, Xã trưởng, Hương Hào, Hương Lễ, Chánh Lục Bộ.

Sau khi chiếm lấy Việt Nam, Pháp không ngừng can thiệp vào tổ chức làng xã và đã làm thay đổi gần như toàn diện cơ cấu xã thôn tự trị xứ mình, đặc biệt ở miền Bắc.

Tới nay hình ảnh làng xã ngày xưa với “Phép vua thua lệ làng” chỉ còn là những gì trong sách.

Trần Văn Chi

About these ads